Monday, 15 October 2018

Chi Phong – Wikipedia tiếng Việt




Chi Phong hay Chi Thích (danh pháp khoa học: Acer) là khoảng 125 loài cây gỗ hay cây bụi, chủ yếu có nguồn gốc ở châu Á, nhưng có một số loài có mặt tại châu Âu, Bắc Phi và Bắc Mỹ. Tên gọi phổ biến của các loài trong tiếng Việt là "phong" hay "thích". Trong tiếng Trung người ta gọi chúng là 枫 / 楓 (phong) hay 槭 (túc). Các loài phong, thích theo lịch sử có khi được xếp trong họ riêng của chính nó là họ Phong (Aceraceae), hoặc có khi lại cùng với họ Dẻ ngựa (Hippocastanaceae-chứa các loài dẻ ngựa, cây bảy lá, lộc đồng) được gộp chung trong họ Bồ hòn (Sapindaceae). Các phân loại hiện đại, bao gồm cả phân loại của APG, ưu tiên việc gộp nó vào Sapindaceae. Trong bài này sử dụng từ phong làm chính.

Từ Acer có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "sắc nhọn" (để chỉ các điểm đặc trưng trên lá của chúng) và lần đầu tiên được nhà thực vật học người Pháp Joseph Pitton de Tournefort dùng cho chi này vào năm 1700.[1]






Các loài phong chủ yếu là cây gỗ cao tới 10–40 m (30–130 ft). Các loài khác là cây bụi thấp hơn 10 m với thân cây chia nhánh nhỏ ngay từ mặt đất. Phần lớn các loài có lá sớm rụng, nhưng một số ít loài tại khu vực miền nam châu Á và khu vực Địa Trung Hải là cây thường xanh.

Các loài phong dễ phân biệt bởi sự sắp xếp lá theo kiểu mọc đối. Lá ở phần lớn các loài có dạng gân và thùy hình chân vịt, với 3-9 gân dẫn tới mỗi thùy, một trong các thùy đó ở chính giữa. Một lượng nhỏ các loài lại khác biệt ở chỗ chúng có lá kép chân vịt hay lông chim, với gân lông chim hay không thùy.

Một số loài, bao gồm phong vỏ giấy (Acer griseum), phong Mãn Châu (Acer mandshuricum), phong Nikko (Acer maximowiczianum) và phong ba hoa (Acer triflorum), có lá dạng ba lá chét. Một loài, thích Manitoba (Acer negundo), có lá kép lông chim có thể là dạng ba hoặc năm, bảy hay đôi khi là chín lá chét đơn. Một loài phong khác, phong trăn (Acer carpinifolium), có các lá đơn gân lông chim trông tương tự như ở các loài trăn.



Hoa của các loài phong thuộc dạng cân đối, mẫu năm, mọc thành các cành, ngù hay tán hoa. Chúng có 5 lá đài, 5 cánh hoa dài khoảng 1–6 mm, 12 nhị hoa dài khoảng 6–10 mm mọc thành hai vòng, mỗi vòng 6 nhị, cùng 2 nhụy hoa hoặc 1 nhụy với 2 vòi nhụy. Bầu nhụy lớn có 2 lá noãn, các cánh của chúng làm thon dài hoa, điều này làm cho người ta rất dễ phân biệt hoa nào là hoa cái. Thích ra hoa vào cuối mùa đông hay đầu mùa xuân, ở phần lớn các loài chúng xuất hiện cùng với lá hoặc muộn hơn một chút, nhưng ở một số loài thì hoa lại xuất hiện trước khi ra lá.

Hoa phong có màu lục, vàng, da cam hay đỏ, tùy theo loài. Mặc dù từng hoa riêng lẻ thì nhỏ, nhưng hiệu ứng chung của cả cây khi ra hoa lại khá sặc sỡ ở một số loài. Một số loài phong là nguồn phấn hoa và mật hoa vào đầu mùa xuân cho các loài ong.

Quả của các loài phong là loại quả cánh. Các hạt này xuất hiện trong các cặp khác biệt, mỗi cặp chứa một hạt được bao bọc trong "quả hạch" nhỏ gắn với các cánh phẳng bao gồm các mô dạng sợi, mỏng như giấy. Chúng có hình dạng như thế để có thể lộn vòng khi rụng nhằm đưa hạt đi đủ xa theo gió. Sự phát triển đầy đủ của hạt diễn ra khoảng từ vài tuần đến 6 tháng kể từ khi ra hoa, với sự phát tán hạt rất nhanh sau khi chín. Phần lớn các loài đòi hỏi phải có xử lý hạt nhằm đảm bảo cho việc nảy mầm, và một số hạt có thể duy trì trạng thái ngủ trong đất trong thời gian vài năm trước khi nảy mầm[1].



Lá phong bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) ăn (xem Danh sách các loài cánh vẩy ăn lá phong). Các loài rệp cũng là các côn trùng hút nhựa phổ biến trên các cây phong.

Các loài phong cũng chịu ảnh hưởng bởi nhiều loại bệnh do nấm gây ra. Một số loài phong rất mẫn cảm với bệnh héo Verticillium do các loài nấm thuộc chi Verticillium gây ra, với tỷ lệ cây chết rất cao. Bệnh vỏ đen, do các loài trong chi Cryptostroma gây ra, có thể làm chết các cây phong do thiếu nước. Đôi khi phong bị chết là do các loài Phytophthora gây thối rễ hay các loài Ganoderma làm rữa rễ. Lá phong về cuối mùa hè và mùa thu nói chung hay bị biến dạng với các "đốm đen hắc ín" do các loài Rhystima gây ra hay mốc sương do các loài Uncinula gây ra, mặc dù các bệnh này thông thường không có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với cây[2].



Làm vườn[sửa | sửa mã nguồn]


Phong Nhật Bản (Acer palmatum) có trên 1.000 giống. Đây là giống 'Sango kaku', còn gọi là "phong vỏ san hô".

Các loài phong được trồng làm cây cảnh. Phong Na Uy (A. platanoides) là đặc biệt phổ biến do tốc độ lớn nhanh và khả năng chịu lạnh, mặc dù nó bị coi là loài xâm hại ở một số khu vực. Các loài phong khác, đặc biệt là các loài nhỏ hay không thông dụng, được sử dụng làm các cây mẫu vật.[1]


Các giống

Hàng loạt các giống phong đã được chọn lựa với các đặc trưng cụ thể và chỉ có thể nhân giống bằng cách ghép cành. Chỉ riêng phong Nhật Bản (A. palmatum) đã có trên 1.000 giống, phần lớn được chọn lựa tại Nhật Bản, và nhiều giống đã không còn được nhân giống hay không được trồng tại các nước phương Tây[1]. Một số giống thanh nhã thường được trồng trong chậu và ít khi cao quá 50–100 cm.


Bonsai

Phong là sự lựa chọn phổ biến cho nghệ thuật bonsai. Phong Nhật Bản, phong đinh ba (A. buergerianum), phong Amur (A. ginnala), phong đồng (A. campestre) và phong Montpellier (A. monspessulanum) là các lựa chọn phổ biến và chúng thích ứng khá tốt với các kỹ thuật kích thích sự giảm bớt lá và phân nhánh cành, nhưng phần lớn các loài đều có thể dùng vào mục đích này[1].


Sưu tập

Nhiều bộ sưu tập các loài phong, đôi khi còn được các tài liệu gọi là aceretum, chiếm không gian trong nhiều khu vườn và các vườn ươm trên khắp thế giới, bao gồm cả "năm W lớn" tại Anh là: vườn Wakehurst Place, vườn ươm Westonbirt, đại công viên Windsor, vườn ươm Winkworth và vườn Wisley. Tại Hoa Kỳ, các vườn ươm thuộc Harvard là vườn ươm Arnold ở Boston là đáng chú ý nhất. Về số lượng loài và giống thì vườn ươm Esveld tại Boskoop, Hà Lan là lớn nhất thế giới[1].


Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]



Nhiều loài phong có bộ lá sáng màu về mùa thu và nhiều quốc gia có các truyền thống theo dõi màu lá. Tại Nhật Bản, tập quán theo dõi sự đổi màu của lá phong về mùa thu được gọi là "momijigari". Nikko và Kyoto là các điểm đến ưa thích cho hoạt động này.

Sự đổi màu của lá phong hoa đỏ (A. rubrum) rất đẹp mắt về mùa thu là yếu tố đóng góp chính vào phong cảnh mùa thu ở miền đông nam Canada và tại New England. Du lịch mùa thu để xem lá đổi màu là nguồn lợi chính trong kinh tế của khu vực này, đặc biệt là tại Vermont, New Hampshire và Western Massachusetts.

Tại khu vực miền tây bắc Hoa Kỳ ven Thái Bình Dương, màu đẹp ngoạn mục về mùa thu của lá phong chủ yếu là do loài phong lá nho (A. circinatum) đã thu hút khách du lịch và các nhà nhiếp ảnh.


Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]


Phong là nguồn quan trọng để sản xuất xi rô và gỗ. Chúng cũng được trồng làm cây cảnh cũng như đem lại nhiều lợi ích cho các ngành du lịch và nông nghiệp.


Xi rô phong

Phong đường (Acer saccharum) được cạo để lấy nhựa, sau đó đem đun nóng nhựa này để sản xuất xi rô phong hay sản xuất đường phong hoặc kẹo phong. Xi rô phong cũng có thể sản xuất từ các loài có họ hàng gần với phong đường, nhưng sản lượng khá ít.


Gỗ

Một số loài phong lớn có gỗ với giá trị kinh tế, cụ thể là phong đường tại Bắc Mỹ và phong đá tại châu Âu. Người ta thường phân biệt gỗ cây bằng độ cứng như phong cứng và phong mềm. Gỗ từ cây phong đường, thường được biết đến như là "phong cứng", là loại gỗ được chọn lựa để làm các con ky trong trò chơi bowling, đường thả bóng trong trò chơi này, vỏ trống và thớt. Gỗ phong cũng được dùng để sản xuất gậy bóng chày, mặc dù ít phổ biến hơn so với gỗ tần bì (Fraxinus spp.) hay mại châu (Carya spp.).

Một số loại gỗ phong có thớ gỗ mang tính trang trí cao, được biết đến như là các vân lửa hay vân sóng. Gỗ phong được coi là hỗ trợ âm thanh rất tốt, vì thế nó được dùng làm nhiều nhạc cụ như ghita và trống.


Nông nghiệp

Do chúng là nguồn cung cấp phấn hoa chính vào đầu mùa xuân trước khi nhiều loài cây khác ra hoa nên phong được coi là quan trọng đối với sự sinh tồn của nhiều loài ong mật.


Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]



Cờ Canada mô tả lá phong cách điệu hóa và nó là biểu tượng quốc gia nổi bật. Tại Hoa Kỳ, phong được 5 bang công nhận là cây chính thức của bang. Cây phong đường được các bang New York[3], Vermont,[4], Wisconsin[5] và Tây Virginia.[6] công nhận. Cây phong hoa đỏ được đảo Rhode công nhận là cây của bang.[7]. Lá phong cũng là biểu tượng của trò chơi trực tuyến MapleStory của Wizet và Nexon.



Cây phong thường cũng hay được thơ văn Việt Nam thời phong kiến nhắc tới, chẳng hạn trong Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du có đoạn viết về cây phong.


Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san






Arcachon – Wikipedia tiếng Việt


Arcachon là một xã thuộc quận cùng tên, trong tỉnh Gironde, thuộc vùng hành chính Nouvelle Aquitaine của nước Pháp, có dân số là 11.459 người (thời điểm 1999).





Khu tắm biển ở Đại Tây Dương nằm trong Công viên Thiên nhiên của Landes de Gascogne, tại bờ phía nam của Bassin d'Arcachon khoảng 60 km về phía tây nam của Bordeaux.

Phía nam của khu biệt thự ở ngoại ô Le Pilat PlagePyla sur Mer (mà hành chính đã thuộc thành phố láng giềng La Teste-de-Buch) trên lối ra từ vịnh đến Đại Tây Dương có cồn cát cao nhất ở châu Âu, Dune du Pilat cao khoảng 110 mét, dài 2, 7 km và rộng khoảng 500 m.














Tỉnh của Nhật Bản – Wikipedia tiếng Việt


Tỉnh

Kanji

Hán Việt

Hiragana

Thủ phủ

Vùng

Đảo

Dân số¹

Diện tích²

Mật độ³

Số hạt trực thuộc

Mã ISO
Aichi

愛知県

Ái Tri

あいちけん

Nagoya (名古屋, Danh Cổ Ốc)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

7.043.235

5.153,81

1.366

88

JP-23
Akita

秋田県

Thu Điền

あきたけん

Akita (秋田, Thu Điền)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.189.215

11.612,11

102

29

JP-05
Aomori

青森県

Thanh Sâm

あおもりけん

Aomori (青森, Thanh Sâm)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.475.635

9.606,26

154

61

JP-02
Chiba

千葉県

Thiên Diệp

ちばけん

Chiba (千葉, Thiên Diệp)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

5.926.349

5.156,15

1.149

80

JP-12
Ehime

愛媛県

Ái Viện

えひめけん

Matsuyama (松山, Tùng Sơn)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

1.493.126

5.676,44

263

28

JP-38
Fukui

福井県

Phúc Tỉnh

ふくいけん

Fukui (福井, Phúc Tỉnh)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

828.960

4.188,76

198

29

JP-18
Fukuoka

福岡県

Phúc Cương

ふくおかけん

Fukuoka (福岡, Phúc Cương)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

5.015.666

4.971,01

1.009

91

JP-40
Fukushima

福島県

Phúc Đảo

ふくしまけん

Fukushima (福島 Phúc Đảo)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.126.998

13.782,54

154

85

JP-07
Gifu

岐阜県

Kỳ Phụ

ぎふけん

Gifu (岐阜, Kỳ Phụ)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.107.687

10.598,18

199

49

JP-21
Gunma

群馬県

Quần Mã

ぐんまけん

Maebashi (前橋, Tiền Kiều)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.024.820

6.363,16

318

61

JP-10
Hiroshima

広島県

Quảng Đảo

ひろしまけん

Hiroshima (広島, Quảng Đảo)

Chūgoku (中国, Trung Quốc)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.878.949

8.476,95

340

37

JP-34
Hokkaido

北海道

Bắc Hải Đạo

ほっかいどう

Sapporo (札幌, Trát Hoảng)

Hokkaidō (北海道, Bắc Hải Đạo)

Hokkaidō (北海道, Bắc Hải Đạo)

5.682.950

83.452,47

68

207

JP-01
Hyogo

兵庫県

Binh Khố

ひょうごけん

Kobe (神戸, Thần Hộ)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

5.550.742

8.392,42

661

60

JP-28
Ibaraki

茨城県

Từ Thành

いばらきけん

Mito (水戸, Thuỷ Hộ)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.985.424

6.095,62

490

61

JP-08
Ishikawa

石川県

Thạch Xuyên

いしかわけん

Kanazawa (金澤, Kim Trạch)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.180.935

4.185,32

282

25

JP-17
Iwate

岩手県

Nham Thủ

いわてけん

Morioka (盛岡, Thịnh Cương)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.416.198

15.278,51

93

46

JP-03
Kagawa

香川県

Hương Xuyên

かがわけん

Takamatsu (高松, Cao Tùng)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

1.022.843

1.861,70

549

17

JP-37
Kagoshima

鹿児島県

Lộc Nhi Đảo

かごしまけん

Kagoshima (鹿児島, Lộc Nhi Đảo)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

1.786.214

9.132,42

196

49

JP-46
Kanagawa

神奈川県

Thần Nại Xuyên

かながわけん

Yokohama (横浜, Hoành Banh, quen gọi là Hoành Tân)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

8.489.932

2.415,42

3.515

35

JP-14
Kochi

高知県

Cao Tri

こうちけん

Kochi (高知, Cao Tri)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

813.980

7.104,70

115

35

JP-39
Kumamoto

熊本県

Hùng Bản

くまもとけん

Kumamoto (熊本, Hùng Bản)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

1.859.451

6.908,45

269

48

JP-43
Kyoto

京都府

Kinh Đô

きょうとふ

Kyōto (京都, Kinh Đô)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.644.331

4.612,93

573

28

JP-26
Mie

三重県

Tam Trọng

みえけん

Tsu (津, Tân)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.857.365

5760,72

322

69

JP-24
Miyagi

宮城県

Cung Thành

みやぎけん

Sendai (仙台, Tiên Đài)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.365.204

6.861,51

325

36

JP-04
Miyazaki

宮崎県

Cung Khi

みやざきけん

Miyazaki (宮崎, Cung Khi)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

1.170.023

6.684,67

175

44

JP-45
Nagano

長野県

Trường Dã

ながのけん

Nagano (長野, Trường Dã)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.214.409

12.598,48

163

120

JP-20
Nagasaki

長崎県

Trường Khi (quen gọi là Trường Kỳ)

ながさきけん

Nagasaki (長崎, Trường Khi)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

1.516.536

4.092,80

371

79

JP-42
Nara

奈良県

Nại Lương

ならけん

Nara (奈良, Nại Lương)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.442.862

3.691,09

391

47

JP-29
Niigata

新潟県

Tân Tích

にいがたけん

Niigata (新潟, Tân Tích)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.475.724

12.582,37

197

111

JP-15
Ōita

大分県

Đại Phân

おおいたけん

Ōita (大分, Đại Phân)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

1.221.128

5.804,24

210

58

JP-44
Okayama

岡山県

Cương Sơn

おかやまけん

Okayama (岡山, Cương Sơn)

Chūgoku (中国, Trung Quốc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.950.656

7.008,63

278

78

JP-33
Okinawa

沖縄県

Xung Thằng

おきなわけん

Naha (那覇, Na Bá)

Ryukyu (琉球, Lưu Cầu)

Quần đảo Nansei (南西諸島, Nam Tây chư đảo)

1.318.281

2.271,30

580

41

JP-47
Osaka

大阪府

Đại Phản

おおさかふ

Osaka (大阪, Đại Phản)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

8.804.806

1.893,18

4.652

44

JP-27
Saga

佐賀県

Tá Hạ

さがけん

Saga (佐賀, Tá Hạ)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

Kyūshū (九州, Cửu Châu)

876.664

2.439,23

359

49

JP-41
Saitama

埼玉県

Kỳ Ngọc

さいたまけん

Saitama (埼玉, Kỳ Ngọc)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

6.938.004

3.767,09

1.827

90

JP-11
Shiga

滋賀県

Tư Hạ

しがけん

Ōtsu (大津, Đại Tân)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.342.811

4.017,36

334

50

JP-25
Shimane

島根県

Đảo Căn

しまねけん

Matsue (松江, Tùng Giang)

Chūgoku (中国, Trung Quốc)

Honshū (本州, Bản Châu)

761.499

6.707,32

114

59

JP-32
Shizuoka

静岡県

Tĩnh Cương

しずおかけん

Shizuoka (静岡, Tĩnh Cương)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

3.767.427

7.328,61

484

74

JP-22
Tochigi

栃木県

Lệ Mộc

とちぎけん

Utsunomiya (宇都宮, Vũ Đô Cung)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

2.004.787

6.408,28

313

33

JP-09
Tokushima

徳島県

Đức Đảo

とくしまけん

Tokushima (徳島, Đức Đảo)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

Shikoku (四国, Tứ Quốc)

823.997

4.145,26

199

50

JP-36
Tokyo

東京都

Đông Kinh

とうきょうと

Shinjuku (新宿, Tân Túc)

Kantō (關東, Quan Đông)

Honshū (本州, Bản Châu)

12.059.237

2.187,08

5.514

39

JP-13
Tottori

鳥取県

Điểu Thủ

とっとりけん

Tottori (鳥取, Điểu Thủ)

Chūgoku (中国, Trung Quốc)

Honshū (本州, Bản Châu)

613.229

3.507,19

175

39

JP-31
Toyama

富山県

Phú Sơn

とやまけん

Toyama (富山, Phú Sơn)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.120.843

4.247,22

264

27

JP-16
Wakayama

和歌山県

Hoà Ca Sơn

わかやまけん

Wakayama (和歌山, Hoà Ca Sơn)

Kinki (近畿, Cận Kỳ)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.069.839

4.725,55

226

50

JP-30
Yamagata

山形県

Sơn Hình

やまがたけん

Yamagata (山形, Sơn Hình)

Tōhoku (東北, Đông Bắc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.244.040

9.323,34

133

44

JP-06
Yamaguchi

山口県

Sơn Khẩu

やまぐちけん

Yamaguchi (山口, Sơn Khẩu)

Chūgoku (中国, Trung Quốc)

Honshū (本州, Bản Châu)

1.528.107

6.110,76

250

56

JP-35
Yamanashi

山梨県

Sơn Lê

やまなしけん

Kofu (甲府, Giáp Phủ)

Chūbu (中部, Trung Bộ)

Honshū (本州, Bản Châu)

888.170

4.465,37

199

64

JP-19

Le Chesnay – Wikipedia tiếng Việt












Le Chesnay



Hệ tọa độ
48°49'16" Nord 02°07'52" Est
Hành chính
Quốc giaQuốc kỳ Pháp Pháp
Vùng
Île-de-France
Tỉnh
Yvelines
Quận
Versailles (quận)
Tổng
Le Chesnay (tổng) (Chef-lieu)
Xã (thị) trưởng
Philippe Brillault
(2001-2008)
Thống kê
Độ cao
[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
(bình quân 120 m/390 ft)
INSEE/Mã bưu chính
78158/ 78150

Le Chesnay là một xã trong vùng đô thị Paris, thuộc tỉnh Yvelines, vùng hành chính Île-de-France của nước Pháp, có dân số là 28.530 người (thời điểm 1999).











Đại số Boolean – Wikipedia tiếng Việt


Boolean lattice of subsets

Trong đại số trừu tượng, đại số Boole là một cấu trúc đại số có các tính chất cơ bản của cả các phép toán trên tập hợp và các phép toán logic. Cụ thể, các phép toán trên tập hợp được quan tâm là phép giao, phép hợp, phép bù; và các phép toán logic là Và, Hoặc, Không.

Đại số Boole được đặt tên theo George Boole (1815–1864), một nhà toán học người Anh.

Đại số Boole làm việc với các đại lượng chỉ nhận giá trị Đúng hoặc Sai và có thể thể hiện hệ thống số nhị phân, hoặc các mức điện thế trong mạch điện logic. Do đó đại số Boole có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật điện và khoa học máy tính, cũng như trong logic toán học.



Đại số Boolean algebra gồm 6 định lý cơ bản và một tập hợp A, được trang bị hai phép toán nhị phân (được gọi là "AND" hay "phép nhân"), (gọi là "OR" hay "phép cộng"), một phép toán đơn nhất ¬ (gọi là "NOT" hay phép phủ định)  và hai giá trị 0 và 1 tương ứng với mức thấp (ký hiệu ) và mức cao (ký hiệu ), giả sử a, b, c thuộc tập hợp A, ta có các tiên đề sau:[1]














a ∨ (bc) = (ab) ∨ c
a ∧ (bc) = (ab) ∧ c
Phép kết hợp
ab = ba
ab = ba
Phép hoán vị
a ∨ (ab) = a
a ∧ (ab) = a
Phép hấp thụ
a ∨ 0 = a
a ∧ 1 = a
Phép đồng nhất
a ∨ (bc) = (ab) ∧ (ac)  
a ∧ (bc) = (ab) ∨ (ac)  
Phép phân phối
a ∨ ¬a = 1
a ∧ ¬a = 0
Phép bù

Lưu ý rằng, phép hấp thụ có thể được loại trừ khỏi tập các tiên đề vì nó có thể được bắt nguồn từ các tiên đề khác.

Một đại số Boolean chỉ với một phần tử được gọi là đại số bẩm sinh hoặc một đại số Boolean thoái hoá. (Một số tác giả yêu cầu 0 và 1 là các phần tử riêng biệt để loại trừ trường hợp này.

Xuất phát từ ba cặp tiên đề cuối cùng ở trên (Phép đồng nhất, phân phối và bù), hoặc từ phép hấp thụ, ta có


a = ba     khi và chỉ khi     ab = b

  • Phép đại số Boolean gồm hai phần tử, 0 và 1, xác định bởi các quy tắc:
  • Nó có nhiều úng dụng trong logic, với 0 là false, 1 là true, ∧ là and (phép nhân), ∨ là or (phép cộng), và ¬ là not (phép phủ định).
  • The two-element Boolean algebra is also used for circuit design in electrical engineering; here 0 and 1 represent the two different states of one bit in a digital circuit, typically high and low voltage. Circuits are described by expressions containing variables, and two such expressions are equal for all values of the variables if and only if the corresponding circuits have the same input-output behavior. Furthermore, every possible input-output behavior can be modeled by a suitable Boolean expression.
  • The two-element Boolean algebra is also important in the general theory of Boolean algebras, because an equation involving several variables is generally true in all Boolean algebras if and only if it is true in the two-element Boolean algebra (which can be checked by a trivial brute force algorithm for small numbers of variables). This can for example be used to show that the following laws (Consensus theorems) are generally valid in all Boolean algebras:
    • (ab) ∧ (¬ac) ∧ (bc) ≡ (ab) ∧ (¬ac)

    • (ab) ∨ (¬ac) ∨ (bc) ≡ (ab) ∨ (¬ac)
  • The power set (set of all subsets) of any given nonempty set S forms a Boolean algebra, an algebra of sets, with the two operations ∨:= ∪ (union) and ∧:= ∩ (intersection). The smallest element 0 is the empty set and the largest element 1 is the set S itself.
  • After the two-element Boolean algebra, the simplest Boolean algebra is that defined by the power set of two atoms:





























0ab1
0
0000
a
0a0a
b
00bb
1
0ab1























0ab1
0
0ab1
a
aa11
b
b1b1
1
1111



  • The set of all subsets of S that are either finite or cofinite is a Boolean algebra, an algebra of sets.

  • Starting with the propositional calculus with κ sentence symbols, form the Lindenbaum algebra (that is, the set of sentences in the propositional calculus modulo tautology). This construction yields a Boolean algebra. It is in fact the free Boolean algebra on κ generators. A truth assignment in propositional calculus is then a Boolean algebra homomorphism from this algebra to the two-element Boolean algebra.

  • Given any linearly ordered set L with a least element, the interval algebra is the smallest algebra of subsets of L containing all of the half-open intervals [a, b) such that a is in L and b is either in L or equal to ∞. Interval algebras are useful in the study of Lindenbaum-Tarski algebras; every countable Boolean algebra is isomorphic to an interval algebra.

  • For any natural number n, the set of all positive divisors of n, defining ab if a divides b, forms a distributive lattice. This lattice is a Boolean algebra if and only if n is square-free. The bottom and the top element of this Boolean algebra is the natural number 1 and n, respectively. The complement of a is given by n/a. The meet and the join of a and b is given by the greatest common divisor (gcd) and the least common multiple (lcm) of a and b, respectively. The ring addition a+b is given by lcm(a,b)/gcd(a,b). The picture shows an example for n = 30. As a counter-example, considering the non-square-free n=60, the greatest common divisor of 30 and its complement 2 would be 2, while it should be the bottom element 1.

  • Other examples of Boolean algebras arise from topological spaces: if X is a topological space, then the collection of all subsets of X which are both open and closed forms a Boolean algebra with the operations ∨:= ∪ (union) and ∧:= ∩ (intersection).

  • If R is an arbitrary ring and we define the set of central idempotents by
    A = { eR: e2 = e, ex = xe, ∀xR }
    then the set A becomes a Boolean algebra with the operations ef:= e + f - ef and ef:= ef.



  1. ^ Davey, Priestley, 1990, p.109, 131, 144








Hoàng Hạ (trống đồng) – Wikipedia tiếng Việt


Hoàng Hạ là một trong những chiếc trống đồng Đông Sơn có kích thước lớn, có nhiều hoa văn phong phú, hiện được tàng trữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.





Vào ngày 13 tháng 7 năm 1937, dân công đào mương dẫn nước xóm Nội, thôn làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (Hà Nội ngày nay) đã tìm ra được trống này ở độ sâu 1,5 mét trong lòng đất.[1].



Trống có đường kính mặt là 79 cm, chiều cao là 61,5 cm. Trống bị long mặt, rỉ gần khắp mặt và cả một phần thân trống.



Hoa văn trang trí, hình dáng và kích thước tương tự như trống Ngọc Lũ I.



Hoa văn tại mặt trống[sửa | sửa mã nguồn]


Bề mặt trống đồng Hoàng Hạ

Hoạ tiết chim trên mặt trống đồng


Chính giữa mặt trống có hình ngôi sao nổi 16 cánh, xem kẽ các cánh sao là những họa tiết trang trí kiểu lông công. Bao quanh ngôi sao là 15 vành hoa văn, gồm hai loại: hoa văn hình học và hình khắc người, động vật và vật.

Về hoa văn hình học, ngoài những hoa văn tương tự như hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ I như các chấm nhỏ thẳng hàng, chữ gãy nối tiếp, vòng tròn chấm giữa có tiếp tuyến song song, văn răng cưa,...còn có thêm vành hoa văn hình xoắn ốc và vòng tròn đồng tâm ở vành thứ 7 từ trong ra ngoài.

Về hình khắc người và động vật thì có vành hươu nai, chim bay xem kẽ. Vành số 9 của trống Hoàng Hạ chỉ có 14 con chim bay. Đó là những hình chim mỏ dài, đuôi và chân dài, có mào, không có những hình chim đứng ngậm mồi.

Rìa mặt trống có 30 lỗ nhỏ cách đều nhau, là dấu vết con kê trên khuôn đúc trống.


Hoa văn ở thân trống[sửa | sửa mã nguồn]



Bố cục trang trí và hình hoa văn giống như trống đồng Ngọc Lũ 1. Trên tang trống, ngoài các vành hoa văn hình học, cũng có hình 6 chiếc thuyền, xen giữa các thuyền là những hình chim có từ 2 đến bốn con. Về trang sức, tất cả thuyền trưởng cầm trống, vũ sĩ và người cầm lái đều đội mũ lông chim khá cao.

Trống có hai đôi quai kép trang trí văn bện thừng. Chân trống không có hoa văn.




  1. ^ Tạp chí của trường Bác cổ Viễn đông, 1937, tr. 607










Amiens – Wikipedia tiếng Việt


Amiens là tỉnh lỵ của tỉnh Somme, thuộc vùng Hauts-de-France của nước Pháp, có dân số là 136.000 người (thời điểm 2005).

Thành phố có khoảng cách 120 km (75 dặm) về phía bắc của Paris và 100 km (62 dặm) về phía tây nam của Lille. Đây là thủ phủ của bộ phận Somme ở Hauts-de-France. Theo thống kê năm 2006, thành phố này có dân số 136.105 người.

Nó có một trong những bệnh viện trường đại học lớn nhất ở Pháp với công suất 1.200 giường.

Nhà thờ Amiens, cao nhất trong các nhà thờ lớn cổ điển, Gothic của thế kỷ XIII và lớn nhất ở Pháp thuộc loại này, là Di sản Thế giới. Tác giả Jules Verne sống ở Amiens từ năm 1871 cho đến khi mất vào năm 1905, và phục vụ trong hội đồng thành phố trong 15 năm. Vào tháng 12, thị trấn này là nơi tổ chức lễ Giáng sinh lớn nhất ở miền bắc nước Pháp. Amiens được biết đến với một số thực phẩm địa phương, bao gồm "macarons d'Amiens", bánh quy hạnh nhân dán; "Tuile amienoises", sô cô la và bánh quy cong màu da cam; "Pâté de canard d'Amiens", patê vịt trong bột nhão; "La ficelle Picarde", một loại bánh quy nướng phồng lên lò nướng; Và "flamiche aux poireaux", một loại bánh phô mai làm bằng tỏi và kem.





Khu định cư đầu tiên được biết đến ở đây là Samarobriva ("Cầu Somme"), khu định cư trung tâm của Ambiani, một trong những bộ lạc chính của Gaul. Thị trấn được người La Mã gọi là Ambianum, có nghĩa là định cư cho người Ambiani. Amiens là một phần của Francia từ thế kỷ thứ V. Normans đã trục xuất thành phố vào năm 859 và một lần nữa vào năm 882. Năm 1113, thành phố được vua Louis VI công nhận và gia nhập vào vương quốc Pháp vào năm 1185. Năm 1597, quân đội Tây Ban Nha đã giữ thành phố trong cuộc vây hãm 6 tháng của Amiens, Trước khi Henry IV giành lại quyền kiểm soát. Trong thế kỷ XVIII XIX, truyền thống dệt may của Amiens trở nên nổi tiếng với những chiếc váy của nó. Năm 1789, các tỉnh của Pháp đã được dỡ bỏ và lãnh thổ được tổ chức thành các phòng ban. Phần lớn của Picard đã trở thành bộ phận mới được tạo ra của Somme với Amiens làm thủ phủ của phòng ban. Trong cuộc cách mạng công nghiệp, các bức tường thành phố đã bị phá hủy, mở ra không gian cho những đại lộ rộng lớn xung quanh trung tâm thị trấn. Khu phố Henriville ở phía nam thành phố được phát triển vào khoảng thời gian này. Năm 1848, tuyến đường sắt đầu tiên đến Amiens, nối thành phố với Boulogne-sur-Mer. Trong Trận Amiens năm 1870 khi Somme bị các lực lượng Prussian xâm chiếm, Amiens đã bị chiếm đóng.

Thị trấn đã chiến đấu trong suốt cả Thế Chiến thứ Nhất và thứ hai, chịu nhiều thiệt hại và bị chiếm đóng nhiều lần bởi cả hai bên. Trận chiến Amiens năm 1918 là giai đoạn mở đầu của Cuộc tấn công Hằng ngày Hậu quả, dẫn trực tiếp tới cuộc Chiến tranh với Đức kết thúc chiến tranh. Nó bị bom Đánh bom bởi Không quân Hoàng gia trong Thế Chiến thứ Hai. Thành phố được xây dựng lại theo quy hoạch của Pierre Dufau với trọng tâm mở rộng đường phố để giảm bớt tắc nghẽn giao thông. Những cấu trúc mới này chủ yếu được xây dựng bằng gạch, bê tông và đá trắng với mái tôn. Kiến trúc sư Auguste Perret đã thiết kế ga tàu lửa Gare d'Amiens và Tour Perret gần đó.



Bản đồ của Amiens và các xã xung quanh

Amiens, quận vùng của Picardy, cũng là quận của Somme, một trong ba phòng ban (với Oise và Aisne) trong khu vực. Nằm ở lưu vực Paris, trên cả nước, thành phố được hưởng lợi từ vị trí địa lý đặc quyền (gần Paris, Paris, Lille, Rouen, Luân Đôn và Brussels). Tại ngã tư của các tuyến đường chính của châu Âu (A1, A16 và A29), thành phố cũng là trung tâm của một ngôi sao đường sắt lớn.

Nằm ở vùng lân cận Le Havre của Rouen, Le Havre là khách sạn dành cho doanh nhân gần Le Bourget,) Từ Reims. Ở cấp độ khu vực, Amiens nằm ở phía Bắc của Beauvais 53 km (33 dặm), cách Saint-Quentin 71 km (44 dặm) về phía Tây, cách Compiègne 66 km (41 mi) và Laon (102 dặm).

Tính theo diện tích, nó là thứ ba trong Somme, sau Crécy-en-Ponthieu và Hornoy-le-Bourg.You



  • Clovis Trouille, họa sĩ

  • Jean Bauhin, bác sĩ của Johanna của Albret, hoàng hậu của Navarra

  • Pál Benkö, kiện tướng cờ vua

  • Paul Bourget, nhà văn

  • Edouard Branly, nhà vật lý học và là nhà tiên phong trong kĩ thuật vô tuyến

  • Jean-Baptiste Joseph Delambre, nhà thiên văn học

  • Jean Baptiste Louis de Gresset, nhà thơ

  • Edouard Lucas, nhà toán học

  • Magnentius, hoàng đế La Mã

  • Peter der Einsiedler, nhà truyền đạo trong thời gian của cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất

  • Vincent Voiture, nhà thơ und nhà văn